Tổng quan bệnh tiểu đường: nguyên nhân, biểu hiện & phòng bệnh

Bệnh tiểu đường rất phổ biến ở Việt Nam hiện nay và đái tháo đường cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tử vong. Để phòng bệnh tiểu đường ngay từ bây giờ, Thị Trường Nước Ngoài sẽ giúp bạn tìm hiểu về bệnh tiểu đường.

Bệnh tiểu đường là gì?

Bệnh tiểu đường là bệnh liên quan quan đến chuyển hóa đường huyết trong máu, nồng độ đường trong máu tăng cao hơn mức bình thường.

Đái tháo đường bao gồm:

  • Đái tháo đường loại 1 – Thể phụ thuộc Insulin và đái tháo đường loại 2 – Thể không phụ thuộc Insulin. Ngoài ra còn có bệnh tiểu đường thai kỳ, bệnh tiểu đường khởi phát ở tuổi trưởng thành, bệnh tiểu đường ở trẻ sơ sinh và nguyên nhân thứ phát do sử dụng các thuốc steroid, bệnh nội tiết,…
  • Đái tháo đường loại 1 thường xuất hiện ở trẻ em và thanh thiếu niên. Đái tháo đường loại 2 thường xuất hiện ở lứa tuổi trung niên, người bị cao huyết áp, những người có lối sống và chế độ ăn kém.

Mỗi loại đái tháo đường có cơ chế bệnh riêng và có các biện pháp chữa trị riêng biệt.

Thống kê ĐTĐ ở Việt Nam

Tình hình ĐTĐ ở Việt Nam

2015: ĐTĐ là nguyên nhân thứ 3 gây tử vong tại Việt Nam.

2017:

  • Ước tính 3,53 triệu người mắc
  • 29000 người tử vong do ĐTĐ
  • 80 ca tử vong/ngày

Dự đoán đến năm 2045, sẽ có tới 6,3 triệu người mắc bệnh, tăng tới 78,5%

Tiểu đường có mấy loại

Đái tháo đường loại 1 – Thể phụ thuộc insulin:

Do tế bào beta đảo tụy nơi sản xuất insulin bị phá hủy dẫn tới sự thiếu hụt Insulin tuyệt đối.

Đái tháo đường loại 2 – Thể không phụ thuộc Insulin:

Do sự mất cân bằng giữa mức Insulin và độ nhạy Insulin dẫn tới sự thiếu hụt chức năng của Insulin.

Đái tháo đường thai kỳ:

Được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối thai kỳ. Năm 2017, gần 300,000 trẻ bị ảnh hưởng bởi việc tăng đường huyết của mẹ trong thời gian thai kỳ ở Việt Nam. 1 trong 2 người phụ nữ mắc ĐTĐ thai kỳ sẽ dẫn tới ĐTĐ loại 2 trong 5-10 năm sau sinh.

Xem thêm: Tiểu đường thai kỳ có nguy hiểm không? Dấu hiệu, điều trị và chế độ ăn

Nguyên nhân gây bệnh đái tháo đường

Rối loạn Insulin

  • Trong tuyến tụy có đảo tụy Langerhans nằm ở trung tâm chứa tế bào alpha bài tiết glucagon và tế bào beta bài tiết insulin. Insulin là hormon duy nhất trong cơ thể gây hạ đường huyết bằng việc đưa glucose máu vào trong tế bào còn Glucagon sẽ làm tăng đường huyết trong máu. Nếu sự mất cân bằng bài tiết giữ cả 2 sẽ dẫn đến mất cân bằng đường huyết. Sự thiếu giảm hoặc suy giảm chức năng Insulin sẽ gây tăng đường huyết.

Di truyền

  • Di truyền cũng là 1 yếu tố nguy cơ. Bệnh đái tháo đường típ 2 liên quan đến sự tác động lẫn nhau phức tạp hơn giữa di truyền và lối sống. Có bằng chứng rõ ràng cho thấy rằng ĐTĐ loại 2 có tính di truyền mạnh hơn so với ĐTĐ loại 1. Đa số bệnh nhân mắc bệnh có ít nhất bố hoặc mẹ mắc bệnh ĐTĐ loại 2.

Tiểu đường thai kỳ

  • Tiểu đường thai kỳ thực chất là bệnh tiểu đường biểu hiện trong quá trình mang thai. Người ta vẫn chưa biết tại sao nó phát triển; tuy nhiên, một số suy đoán rằng các kháng nguyên HLA có thể đóng một vai trò nào đó. Cụ thể là HLA DR2, 3 và 4. Proinsulin quá mức cũng được cho là có vai trò trong bệnh tiểu đường thai kỳ, và một số ý kiến ​​cho rằng proinsulin có thể gây căng thẳng tế bào beta. Những người khác tin rằng nồng độ cao của các hormone như progesterone, cortisol, prolactin, lactogen nhau thai người và estrogen có thể ảnh hưởng đến chức năng tế bào beta và độ nhạy insulin ngoại vi.

Bệnh nội tiết

  • Một số bệnh lý nội tiết, bao gồm bệnh to đầu chi, hội chứng Cushing, bệnh glucagonoma, cường giáp, cường aldosteron và bệnh u não, có liên quan đến chứng không dung nạp glucose và đái tháo đường, do hoạt động glucogenic vốn có của các hormone nội sinh được tiết quá mức trong những tình trạng này. Các tình trạng như hemochromatosis vô căn có liên quan đến bệnh đái tháo đường do sự lắng đọng quá nhiều sắt trong tuyến tụy và sự phá hủy các tế bào beta.

Cơ chế gây bệnh tiểu đường

Đái tháo đường typ 1

  • Đây là một thể bệnh nặng thường xuất hiện ở lứa tuổi trẻ <40 tuổi. Nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi dẫn tới ĐTĐ typ 1 do 3 yếu tố tham gia: di truyền, môi trường, miễn dịch.
  • Cơ chế bệnh sinh: Xảy ra ở những cá thể có hệ gen nhạy cảm (có kháng nguyên HLA-DR3, HLA-DR4, DQW8, gen kháng HLA-DRW2, B7). Khi gặp yếu tố môi trường thuận lợi: virus (rubella, quai bị, ..), một số độc tố gây thoái biến tế bào beta của đảo tụy, đặc biệt là các hợp chất có chứa nitơ (nitrit, nitrat, ..) sẽ làm khởi động quá trình bệnh lý ở những cá thể có hệ gen nhạy cảm trên.
  • Do đó, hệ thống miễn dịch của các thể này được hoạt hóa, tấn công vào các đảo tụy, có biểu hiện tự miễn, bất thường cả miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào: xuất hiện các tự kháng thể kháng tế bào beta đảo tụy, các tế bào lympho bị kích hoạt trong đảo tụy, các lympho T tăng sinh và giải phóng ra các cytokin dẫn tới phá hủy tế bào beta đảo tụy.
  • Quá trình phá hủy tế bào beta đảo tụy diễn ra trong vài năm hoặc thậm chí trong vài tháng, làm tế bào beta đảo tụy bị phá hủy dần dẫn tới khả năng tiết insulin của tế bào beta đảo tụy còn ít và cạn kiệt. ĐTĐ loại 1 là hậu quả của sự phá hủy tế bào beta đảo tụy tự miễn làm thiếu hụt insulin tuyệt đối.

Đái tháo đường typ 2

  • Thường xuất hiện ở tuổi trung niên > 40 tuổi.
  • Nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi dẫn đến ĐTĐ loại 2 do: di truyền (trẻ sinh đôi đồng hợp tử, biến đổi di truyền trên nhánh ngắn của nhiễm sắc thể 11 gần với gen tổng hợp insulin), môi trường (tuổi>40 nhưng chủ yếu từ 50-60, béo phì và những người ít vận động), rối loạn tiết insulin và kháng insulin.
  • Cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ typ2 liên quan đến sự thiếu hụt insulin tương đối do rối loạn tiết insulin và hiện tượng kháng insulin, trong đó rối loạn tiết insulin và hiện tượng kháng insulin có liên quan mật thiết với nhau và đều xảy ra từ trước khi xuất hiện các biểu hiện lâm sàng của ĐTĐ (giai đoạn tiền đái tháo đường).

Rối loạn tiết Insulin

  • Tăng sinh insulin máu bù trừ: ở bệnh nhân kháng insulin, trong giai đoạn đầu, để bù trừ lại hiện tượng kháng insulin, đảo tụy tăng cường bài tiết insulin hoặc tăng khối lượng của tụy. Nếu glucose máu vẫn tiếp tục tăng thì ở giai đoạn sau, khả năng tiết insulin đáp ứng glucose càng giảm sút.
  • Tăng tiền chất không có hoạt tính proinsulin mất tính chất tiết insulin từng đợt.

Bệnh ĐTĐ typ 2 chỉ có những biểu hiện lâm sàng thi tế bào beta đảo tụy bị tổn thương không còn đủ khả năng đưa glucose máu về giới hạn bình thường và sự suy giảm tế bào beta thường diễn ra một cách từ từ.

Ngoài ra, sự suy giảm tế bào beta đảo tụy trong ĐTĐ typ 2 nguyên nhân bởi độc tố do tăng glucose: tăng glucose máu mạn tính ảnh hưởng trực tiếp đến dẫn truyền tín hiệu, đến các biểu hiện gen và đến cấu trúc của tế bào beta đảo tụy, kiệt quệ tế bào beta đảo tụy do glucose máu tăng mạn tính kích thích tế bào beta tiết insulin trong một thời gian dài,..

Tình trạng giảm hoặc mất tính nhạy cảm của cơ quan đích với insulin được gọi là kháng insulin. Kháng insulin được coi là những khiếm khuyết ban đầu hoặc những khiếm khuyết chính trong ĐTĐ typ 2. Đồng thời kháng insulin cũng là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến suy giảm chức năng bài tiết insulin của tế bào beta đảo tụy do các tế bào này phải tăng tiết insulin bù trừ hiện tượng kháng insulin.

Các đối tượng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường

  • Những người có bố hoặc mẹ mắc bệnh ĐTĐ có nguy cơ cao sẽ mắc ĐTĐ do di truyền, ĐTĐ typ 2 có nguy cơ cao hơn ĐTĐ typ 1.
  • Những người trung niên bị cao huyết áp, béo phì, có lối sống và chế độ ăn uống kém, ít vận động.
  • Những người có gen nhạy cảm (có kháng nguyên HLA-DR3, HLA-DR4, DQW8, gen kháng HLA-DRW2, B7) khi gặp yếu tố môi trường thuận lợi: virus (rubella, quai bị, ..).Các xét nghiệm và chuẩn đoán bệnh tiểu đường.
  • Mức đường huyết lúc đói và xét nghiệm HbA1c rất hữu ích để xác định sớm bệnh đái tháo đường típ 2. Nếu ranh giới, xét nghiệm dung nạp glucose là một lựa chọn để đánh giá cả mức đường huyết lúc đói và đáp ứng huyết thanh với xét nghiệm dung nạp glucose đường uống (OGTT).

Tiền đái tháo đường, thường xảy ra trước đái tháo đường típ 2, biểu hiện bằng mức đường huyết lúc đói từ 100 đến 125 mg / dL hoặc xét nghiệm dung nạp đường sau uống (sau OGTT) trong 2 giờ là 140 đến 200 mg / dL.

Để kiểm tra bệnh tiểu đường thai kỳ, tất cả bệnh nhân mang thai đều được sàng lọc từ 24 đến 28 tuần tuổi thai bằng xét nghiệm thử đường huyết lúc đói 1 giờ.

Nếu nồng độ đường huyết trên 140mg / dL, bệnh nhân phải làm xét nghiệm thử thách đường huyết lúc đói 3 giờ để xác định chẩn đoán. Xét nghiệm OGTT dương tính trong 3 giờ là khi có ít nhất một giá trị bất thường (lớn hơn hoặc bằng 180, 155 và 140 mg / dL đối với nồng độ glucose huyết tương lúc đói một giờ, hai giờ và 3 giờ, tương ứng).

Xem thêm: Bệnh đái tháo đường: Nguyên nhân, Triệu chứng & Các biến chứng bệnh

Chữa bệnh tiểu đường

Sinh lý học và điều trị bệnh tiểu đường rất phức tạp và cần nhiều biện pháp can thiệp để quản lý bệnh thành công. Giáo dục bệnh tiểu đường và sự tham gia của bệnh nhân là rất quan trọng trong quản lý.

Điều trị đái tháo đường
Điều trị đái tháo đường

Điều trị suốt đời

Thường là cần thiết để ngăn ngừa các biến chứng không mong muốn. Tốt nhất, mức đường huyết nên được duy trì ở mức 90 đến 130 mg / dL và HbA1c ở mức dưới 7%. Mặc dù việc kiểm soát đường huyết là rất quan trọng, nhưng việc quản lý tích cực quá mức có thể dẫn đến hạ đường huyết, có thể có kết quả bất lợi hoặc tử vong.

Vì T1DM là một bệnh chủ yếu do không có insulin, nên việc sử dụng insulin thông qua tiêm hàng ngày hoặc bơm insulin, là phương pháp điều trị chính. Trong bệnh đái tháo đường loại 2, chế độ ăn và tập thể dục có thể là phương pháp điều trị thích hợp, đặc biệt là ban đầu.

Các liệu pháp khác có thể nhắm đến sự nhạy cảm với insulin hoặc tăng tiết insulin của tuyến tụy. Các phân nhóm cụ thể cho thuốc bao gồm biguanide (metformin), sulfonylureas, meglitinides, chất ức chế alpha-glucosidase, thiazolidinediones, chất chủ vận glucagonlike-peptide-1, chất ức chế dipeptidyl peptidase IV (DPP-4), chọn lọc, amylinomimetics và chất vận chuyển natri-glucose-2 (SGLT-2) chất ức chế.

Metformin

Là dòng thuốc điều trị tiểu đường đầu tiên được kê đơn và hoạt động bằng cách làm giảm đường huyết cơ bản và sau ăn. Sử dụng insulin cũng có thể cần thiết cho bệnh nhân ĐTĐ típ 2, đặc biệt là những người có quản lý glucose không đầy đủ trong giai đoạn nặng của bệnh.

Phẫu thuật cắt lớp đệm

Ở những bệnh nhân béo phì, phẫu thuật cắt lớp đệm là một phương tiện khả thi để bình thường hóa mức đường huyết. Nó được khuyến khích cho những người không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác và những người có bệnh đi kèm đáng kể. Chất chủ vận GLP-1 liraglutide và semaglutide tương quan với việc cải thiện kết quả tim mạch. Các chất ức chế SGLT-2 empagliflozin và canagliflozin cũng đã cho thấy cải thiện kết quả tim mạch cùng với khả năng tái bảo vệ cũng như ngăn ngừa sự phát triển của suy tim.

Điều trị đái tháo đường
Điều trị đái tháo đường

Kiểm tra thường xuyên

Rất cần thiết vì các biến chứng vi mạch là một biến chứng đáng sợ của bệnh tiểu đường. Kiểm tra võng mạc tiểu đường thường xuyên nên được thực hiện bởi nhân viên y tế có chuyên môn để đánh giá bệnh võng mạc tiểu đường.

Kiểm tra thần kinh bằng xét nghiệm monofilament có thể xác định bệnh nhân bị bệnh thần kinh có nguy cơ phải cắt cụt chi. Bác sĩ cũng có thể đề nghị bệnh nhân kiểm tra bàn chân hàng ngày để xác định các tổn thương bàn chân có thể không được chú ý do bệnh lý thần kinh.

Thuốc chống trầm cảm ba vòng liều thấp, duloxetine, thuốc chống co giật, capsaicin tại chỗ và thuốc giảm đau có thể cần thiết để kiểm soát cơn đau thần kinh trong bệnh tiểu đường. Xét nghiệm microalbumin trong nước tiểu cũng có thể đánh giá những thay đổi ở thận sớm do đái tháo đường với albumin niệu cao hơn 30mg / g creatinine cùng với GFR ước tính.

Pregabalin và duloxetine

FDA đã phê duyệt pregabalin và duloxetine để điều trị bệnh thần kinh ngoại biên do tiểu đường. Thuốc chống trầm cảm ba vòng và thuốc chống co giật cũng được sử dụng trong việc kiểm soát cơn đau của bệnh thần kinh do tiểu đường với mức độ thành công khác nhau. 

Kiểm tra huyết áp thường xuyên

ADA cũng khuyến nghị kiểm tra huyết áp thường xuyên cho bệnh nhân tiểu đường, với mục tiêu là huyết áp tâm thu 130 mmHg và huyết áp tâm trương 85 mmHg. Liệu pháp dược lý cho bệnh nhân tiểu đường tăng huyết áp thường bao gồm thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin, thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn beta hoặc thuốc chẹn kênh canxi.

ADA khuyến nghị theo dõi lipid cho bệnh nhân tiểu đường với mục tiêu là cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C) dưới 100 mg / dL nếu không có CVD và dưới 70 mg / dl nếu có ASCVD. Statin là phương pháp điều trị đầu tay để kiểm soát rối loạn lipid máu ở bệnh nhân tiểu đường. ADA gợi ý rằng aspirin liều thấp cũng có thể có lợi cho bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ cao bị các biến cố tim mạch; tuy nhiên, vai trò của aspirin trong việc giảm các biến cố tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường vẫn chưa rõ ràng.

Chế độ ăn cho người tiểu đường
Chế độ ăn cho người tiểu đường

Chế độ ăn cho người tiểu đường

Bệnh nhân có kết quả tốt hơn nếu họ có thể quản lý chế độ ăn uống của mình (hạn chế carbohydrate và tổng lượng calo) ăn nhiều chất xơ, tập thể dục thường xuyên (hơn 150 phút mỗi tuần) và theo dõi glucose một cách độc lập.

Hạn chế sử dụng các thực phẩm chế biến sẵn, đồ ăn nhanh.

Cắt giảm lượng đường trong khẩu phần ăn hàng ngày.

Thực hiện chế độ Low carb:

  • Sử dụng thịt nác trắng, thịt gia cầm và hải sản.
  • Không sử dụng sô cô la và mứt mà thay bằng bơ đậu phộng.
  • Chọn gạo, bánh mỳ ống nguyên cám.
  • Không sử dụng chất béo bão hòa (bơ, mỡ động vật), thay bằng chất béo chưa no (dầu oliu, dầu ngô).

Phòng bệnh tiểu đường

Uống đủ nước mỗi ngày.

Có chế độ ăn hợp lí như trên.

Không sử dụng thuốc lá.

Bổ sung đầy đủ vitamin D tăng cường hệ miễn dịch, đặc biệt đối với phụ nữ có thai:

  • Bổ sung qua thức ăn: cá hồi, ngũ cốc dinh dưỡng,..
  • Tắm nắng

Tăng cường tập thể dục thể thao, giảm cân nếu bị béo phì

Bổ sung nhiều chất xơ

Uống cà phê và trà:

  • Chứa polyphenol là một chất chống oxy hóa giúp ngăn chặn tiểu đường.
  • Trà xanh còn chứa chất EGCG giúp giảm lượng đường vào máu được giải phóng từ gan và tăng độ nhạy cảm của insulin.

Nguồn tham khảo

1. Diabetes Mellitus:  https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK551501/

Phạm Mỹ Uyên

Tốt nghiệp chính quy đại học Dược Hà Nội, với đam mê làm đẹp tôi đã đồng thời là một beauty blogger để chia sẻ những kiến thức của mình về sức khỏe và làm đẹp đến với mọi người

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *